CHÀO MỪNG
Chào mừng quý vị đến với Website của Trường THCS Hàm Chính.
LUẬT CÔNG ĐOÀN
|
BỘ TƯ PHÁP
|
TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM |
ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU
LUẬT CÔNG ĐOÀN NĂM 2012
Ngày 20 tháng 6 năm 2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Luật công đoàn (sau đây gọi là Luật công đoàn năm 2012). Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT CÔNG ĐOÀN NĂM 2012
Luật công đoàn năm 2012 cần thiết được ban hành bởi những lý do sau:
Một là, xuất phát từ yêu cầu khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật công đoàn năm 1990
Qua 20 năm thực hiện, Luật công đoàn năm 1990 đã tạo hành lang pháp lý vô cùng quan trọng cho Công đoàn Việt Nam thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo luật định, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị đất nước, phát huy vai trò, tác dụng và ảnh hưởng lớn trong đời sống chính trị xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật công đoàn năm 1990 do được ban hành vào giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi sang thể chế kinh tế thị trường nên hiện nay một số điểm không còn phù hợp, đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra, thể hiện trên bốn vấn đề lớn:
- Đối tượng, phạm vi điều chỉnh còn hẹp so với tình hình phát triển nhanh của các loại hình doanh nghiệp, sự đa dạng của quan hệ lao động và yêu cầu thực thi hiệu quả quyền công đoàn;
- Chức năng, nhiệm vụ công đoàn còn rộng, dàn trải, thiếu tập trung đã làm ảnh hưởng nhất định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của Công đoàn trong lĩnh vực đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động;
- Thiếu cơ chế bảo đảm thi hành quyền công đoàn trong các lĩnh vực: thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm; cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn, giải quyết tranh chấp về quyền công đoàn. Tính hiệu lực, thống nhất và sự ổn định, vững chắc của kinh phí hoạt động công đoàn không cao.
- Kỹ thuật lập pháp liên quan đến phương pháp tiếp cận, xây dựng và thể hiện các quyền, nghĩa vụ, chức năng, nhiệm vụ của Công đoàn chưa theo một tiêu chí rõ ràng, thống nhất. Trong đó, có những vấn đề tiếp cận theo chức năng của công đoàn, có vấn đề lại tiếp cận theo lĩnh vực hoạt động của công đoàn và nội dung một số điều luật thiếu thống nhất, trùng lặp.
Những tồn tại, hạn chế trên đây đang là một trong những nguyên nhân làm giảm tính khả thi của Luật và hiệu quả hoạt động của công đoàn, đòi hỏi phải được sửa đổi một cách toàn diện để đáp ứng quá trình phát triển của đất nước thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh mẽ về tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của công đoàn trong tình hình mới. Trong đó, cần thiết phải xác định và quy định rõ chức năng, quyền và trách nhiệm của công đoàn, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi nhất cho việc thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động. Đồng thời nâng cao trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp đối với tổ chức và hoạt động của Công đoàn; bảo đảm ổn định, vững chắc các điều kiện thiết yếu liên quan đến tổ chức cán bộ, bảo vệ cán bộ công đoàn và tài chính cho hoạt động công đoàn và tạo một cơ chế giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật công đoàn.
Hai là, nhằm kịp thời thể chế hoá các quan điểm, đường lối của Đảng về hoàn thiện, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/1/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về: “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
Theo đó, phải “Sớm sửa đổi, bổ sung Luật công đoàn để phù hợp, tương thích với các quy định của Hiến pháp, Bộ luật lao động, Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật có liên quan; xác định rõ vị trí, chức năng, quyền và cơ chế đảm bảo để công đoàn thực hiện tốt chức năng trong thời kỳ mới.”; phát huy vai trò đặc biệt quan trọng của Công đoàn trong việc góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội của đất nước.
Ba là, bảo đảm tính đồng bộ của pháp luật về công nhân, lao động và công đoàn.
Luật công đoàn năm 1990 được ban hành trước Bộ luật lao động (được ban hành năm 1994, sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007) là văn bản pháp luật đặc biệt quan trọng đối với hoạt động công đoàn trong lĩnh vực quan hệ lao động. Trong đó quy định các quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động, vai trò của công đoàn trong quan hệ lao động và trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo đảm, phối hợp hoạt động đối với công đoàn. Như vậy các quyền cơ bản của công đoàn trên thực tế đã được quy định ở hai Luật (Luật công đoàn năm 1990 và Bộ luật lao động năm 1994) nhưng lại quy định và ban hành vào hai thời điểm cách xa nhau, một mặt tạo nên tình trạng thiếu tập trung thống nhất chung về đối tượng, phạm vi điều chỉnh trong Luật công đoàn, mặt khác thiếu đồng bộ với sự thay đổi về khuôn khổ pháp lý lao động liên quan đến hoạt động công đoàn đã được hoàn thiện trong những năm vừa qua.
Để giải quyết hạn chế, bất cập trên, Luật công đoàn năm 1990 cần phải được tiến hành sửa đổi đồng thời với sửa đổi toàn diện Bộ luật lao động theo Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII, XIII nhằm phân định rõ, hợp lý đối tượng, phạm vi điều chỉnh liên quan đến Công đoàn của hai đạo Luật, bảo đảm tính đồng bộ của pháp luật về công nhân, lao động và công đoàn. Phạm vi điều chỉnh của pháp luật về công đoàn bao gồm: Sự công nhận về mặt pháp lý của Nhà nước đối với quyền công đoàn của người lao động, các quyền cơ bản của tổ chức Công đoàn; xác định, quy định những trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước và các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp đối với hoạt động công đoàn; những bảo đảm của Nhà nước cho hoạt động của Công đoàn. Luật công đoàn sẽ phải thể hiện một cách đầy đủ những nội dung trên, trong đó có các quyền, trách nhiệm chung, cơ bản của người lao động, công đoàn và của doanh nghiệp trong quan hệ lao động liên quan đến việc làm, hợp đồng lao động, tiền lương, đối thoại, thương lượng, thoả ước lao động tập thể, giải quyết tranh chấp lao động, đình công.
Đồng thời trên cơ sở quy định chung của Luật công đoàn (sửa đổi), Bộ luật lao động sửa đổi đã quy định chi tiết quyền, trách nhiệm của công đoàn trong quan hệ lao động ở từng chế định, lĩnh vực cụ thể.
Từ những căn cứ trên cho thấy sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật công đoàn năm 1990 cho phù hợp với sự phát triển của đất nước và của tổ chức Công đoàn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế.
II. QUAN ĐIỂM, NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG LUẬT CÔNG ĐOÀN NĂM 2012
Luật công đoàn năm 2012 được xây dựng dựa trên những quan điểm, nguyên tắc sau:
Thứ nhất, quán triệt và thể chế hoá các quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng trong các Nghị quyết của Đại hội Đảng, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương liên quan đến việc xây dựng, phát triển đất nước, đặc biệt là Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/1/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” gắn liền với yêu cầu xây dựng tổ chức Công đoàn lớn mạnh, phát huy vai trò của Công đoàn trong xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam.
Thứ hai, bảo đảm phù hợp với quy định hiện hành của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng bộ với Bộ luật lao động (sửa đổi) nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của pháp luật về công nhân, lao động và công đoàn. Đồng thời quán triệt Chỉ thị số 22/CT-TW ngày 5/6/2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp”, góp phần phát triển quan hệ lao động lành mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội.
Thứ ba, kế thừa những nội dung tiến bộ, phù hợp của pháp luật công đoàn hiện hành, pháp điển hoá các quy định về công đoàn trong một số văn bản pháp luật; phát triển thêm những nội dung thuộc quyền, trách nhiệm của Công đoàn, Nhà nước, các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp cho phù hợp với điều kiện và yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư, tham khảo kinh nghiệm và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng pháp luật về công đoàn; bảo đảm các quy định của Luật công đoàn phù hợp với thực tiễn ViệtNam, và từng bước phù hợp, tương thích với pháp luật quốc tế.
III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT CÔNG ĐOÀN NĂM 2012
Luật công đoàn năm 2012 được kết cấu gồm 6 chương, 33 điều. Trong đó, giữ bốn chương của Luật công đoàn hiện hành, bổ sung thêm 2 chương mới: chương III “Trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đối với Công đoàn” và chương V “Giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật về công đoàn”; tăng 14 điều Luật.
Thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật công đoàn năm 2012 đã đặt tên 33 điều luật và sắp xếp, thể hiện nội dung cụ thể theo một tiêu chí rõ ràng, thống nhất trên cơ sở các chức năng, quyền và trách nhiệm của Công đoàn đã được Hiến pháp, Luật công đoàn. Bố cục và nội dung chủ yếu của Luật công đoàn năm 2012 như sau:
Chương 1. Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 09)
Chương này gồm các quy định chung về khái niệm Công đoàn (xác định địa vị pháp lý của Công đoàn Việt Nam); Phạm vi điều chỉnh; Đối tượng áp dụng; Giải thích một số từ ngữ; Quyền thành lập, gia nhập và hoạt động Công đoàn; Nguyên tắc thành lập, tổ chức và hoạt động Công đoàn; Hệ thống tổ chức Công đoàn; Hợp tác quốc tế về Công đoàn; Những hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến việc thành lập, gia nhập và hoạt động Công đoàn.
Xuất phát và kế thừa địa vị pháp lý của Công đoàn theo thể chế chính trị đã được xác định, quy định tại điều 10 của Hiến pháp và tại điều 1, điều 2 của Luật công đoàn năm 1990, Luật công đoàn lần này tiếp tục khẳng định Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động, là thành viên trong hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng; có chức năng đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân lao động, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đây là quy định đặc biệt quan trọng trong Luật công đoàn để tạo cơ sở thống nhất, nền tảng quy định cụ thể các quyền và trách nhiệm theo lĩnh vực hoạt động của Công đoàn tại chương tiếp theo, tạo hành lang pháp lý cho Công đoàn thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ theo luật định.
Chương này bổ sung điều mới về: “Giải thích từ ngữ” và “Hệ thống tổ chức Công đoàn”. Trong đó, một số từ ngữ liên quan chủ yếu đến thực hiện quyền, trách nhiệm của Công đoàn như: Quyền công đoàn, Công đoàn cơ sở, Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, Cán bộ công đoàn chuyên trách, không chuyên trách, Tranh chấp về quyền công đoàn đã được quy định trong Luật để tạo điều kiện thuận lợi cho việc hiểu và áp dụng thi hành Luật được thống nhất. Việc Luật công đoàn năm 2012 luật hoá chức danh Cán bộ công đoàn không chuyên trách từ Tổ phó tổ Công đoàn trở lên đã tạo nền tảng mở rộng quyền được bảo đảm điều kiện hoạt động công đoàn quy định tại chương IV.
Trên cơ sở kế thừa quy định hiện hành, Luật công đoàn năm 2012 đã xác định những hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến việc cản trở thành lập và hoạt động công đoàn; phân biệt đối xử với người lao động, cán bộ công đoàn, can thiệp vào tổ chức và hoạt động công đoàn; đồng thời quy định bổ sung thêm hành vi bị nghiêm cấm liên quan lợi dụng quyền công đoàn để vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân nhằm bảo đảm thêm sự bình đẳng trong chấp hành pháp luật công đoàn của các đối tượng áp dụng Luật.
Chương 2. Quyền, trách nhiệm của Công đoàn và đoàn viên Công đoàn (từ Điều 10 đến điều 19)
Chương này là một trong những chương quan trọng nhất của Luật, quy định cụ thể các quyền và trách nhiệm theo từng lĩnh vực hoạt động của Công đoàn trên cơ sở chức năng của Công đoàn đã được Hiến pháp và Điều 1 của Luật quy định; đồng thời luật hoá từ Điều lệ công đoàn các quyền và trách nhiệm của đoàn viên công đoàn.
- Mục I chương này quy định về quyền và trách nhiệm của Công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; Tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; Trình dự án luật, pháp lệnh và kiến nghị xây dựng chính sách, pháp luật; Tham dự các phiên họp, cuộc họp, kỳ họp và hội nghị; Tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; Tuyên truyền, vận động giáo dục người lao động; Phát triển đoàn viên công đoàn và công đoàn cơ sở; Quyền và trách nhiệm của Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đối với người lao động ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp chưa thành lập được tổ chức Công đoàn cơ sở.
- Mục II chương này quy định về quyền và trách nhiệm của đoàn viên công đoàn; trong đó có quyền được tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý miễn phớ.
Chương này đã quy định cụ thể thêm quyền, trách nhiệm phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở; quy định tăng thêm trách nhiệm của Công đoàn cấp trên cơ sở trong việc tiếp cận doanh nghiệp để tuyên truyền, vận động, hướng dẫn thành lập công đoàn cơ sở, hỗ trợ giải quyết những khó khăn, hạn chế hiện nay của Công đoàn cơ sở do phải đảm nhiệm quá nhiều công việc nặng nề nên chất lượng và hiệu quả hoạt động không cao, chưa đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của công nhân lao động trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ ở nước ta, quan hệ lao động phức tạp và ẩn chứa những tranh chấp sẽ phát sinh trong những năm tới.
Đặc biệt quan trọng là quy định trách nhiệm của Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trong việc đại diện, bảo vệ quyền lợi cho người lao động ở các đơn vị, doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn. Thông qua đó tạo hành lang pháp lý vững chắc cho Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước thực hiện tốt trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Đối với quyền, trách nhiệm công đoàn trong quan hệ lao động, Luật quy định khung mang tính nguyên tắc cho phù hợp, cân đối với các lĩnh vực hoạt động khác của công đoàn. Trên cơ sở đó, Bộ luật lao động sửa đổi, các Nghị định hướng dẫn thi hành và Điều lệ Công đoàn ViệtNamsẽ quy định cụ thể.
Chương 3. Trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đối với Công đoàn (từ Điều 20 đến Điều 22)
Chương này quy định về mối quan hệ giữa Công đoàn với Nhà nước, cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; Trách nhiệm của Nhà nước đối với Công đoàn; Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đối với Công đoàn.
Luật công đoàn hiện hành đã có một số quy định trách nhiệm của Cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị đối với Công đoàn liên quan đến việc tôn trọng quyền độc lập về tổ chức và các quyền khác của Công đoàn, tăng cường mối quan hệ hợp tác trong mọi hoạt động nhằm mục đích xây dựng cơ quan, đơn vị, xây dựng đất nước và chăm lo lợi ích của người lao động, tạo điều kiện cần thiết cho Công đoàn hoạt động; và trên thực tế đã phối hợp với Công đoàn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mỗi bên, góp phần chăm lo đời sống, bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động và xây dựng, phát triển đất nước.
Tuy nhiên vần còn một số lĩnh vực thuộc trách nhiệm của cơ quan Nhà nước như trong công tác tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật công đoàn; tạo điều kiện cho Công đoàn tham gia các hoạt động tố tụng bảo vệ quyền lợi của người lao động trước Toà án, và một số lĩnh vực thuộc trách nhiệm của đơn vị, do
Phạm Thị Thắng @ 14:25 18/12/2012
Số lượt xem: 214
- NỔI NIỀM CỦA THẦY THÍCH (10/12/12)
- Thông tư Liên tịch hướng dẫn --- về chế độphụcấpthâm niên (28/02/12)
- Quyết định : ban hành định mức chi cho các hội thingành giáo dục và đào tạo tỉnh Bình thuận (14/12/11)
- QUY ĐỊNH MỨC ĐÓNG BHXH NĂM 2012 (01/12/11)
- CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐÔNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP (28/11/11)
Các ý kiến mới nhất